17. Hội chứng Hikikomori ở Nhật Bản
DOI:
https://doi.org/10.61591/jslhu.25.770Từ khóa:
Hội chứng Hikikomori; Từ bỏ xã hội; Đại dịch Covid-19; Amae.Tóm tắt
Hội chứng Hikikomori, hiện tượng tự cô lập trong thời gian dài, đã trở thành một vấn đề xã hội nghiêm trọng ở Nhật Bản trong nhiều thập kỷ. Đây là một dạng rút lui khỏi xã hội, chủ yếu gặp phải ở thanh thiếu niên và trẻ vị thành niên từ những năm 1970 và đặc biệt được chú ý kể từ cuối những năm 1990. Gần đây, các trường hợp tương tự Hikikomori cũng được ghi nhận ở nhiều quốc gia khác. Đặc biệt, sau đại dịch Covid-19, lối sống này có xu hướng gia tăng tại Nhật Bản. Hikikomori không chỉ gây ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe tinh thần và sự tham gia xã hội của cá nhân mà còn tác động xấu đến hệ thống giáo dục và sự ổn định của lực lượng lao động. Đây là một vấn đề cấp bách mang tính toàn cầu. Bài viết này sẽ phân tích nguyên nhân cơ bản dẫn đến hội chứng Hikikomori, tác động về mặt tâm lý và xã hội. Đồng thời, bài viết sẽ đánh giá thực trạng của hội chứng này tại Nhật Bản, từ đó rút ra bài học cho giới trẻ Việt Nam cũng như đề xuất các cách giúp có thể phòng tránh hội chứng Hikikomori.
Tài liệu tham khảo
T. Saito and A. Jeffrey, Eds., Adolescence without End. Minnesota: The University of Minnesota Press, 2013.
japan.net.vn, “Hội chứng Hikikomori – Người Nhật trẻ tự xa lánh cộng đồng,” 2022. [Online].
VnExpress, “‘Hikikomori’ – hội chứng tự giam mình ở thanh niên Nhật,” 2002. [Online].
厚生労働省 (Ministry of Health, Labour and Welfare of Japan), ひきこもりに関する全国調査報告書 (National Survey Report on Hikikomori), 2020.
Báo điện tử VTV, “Hikikomori – Những người không ra khỏi phòng tại Nhật Bản,” 2019. [Online].
T. T. Do and M. Q. Nguyen, “Giải pháp phòng, chống hành vi tự cô lập trên bình diện tâm lí học,” Journal of Science, Ho Chi Minh City University of Education, vol. 21, no. 1, p. 48, 2024.
N. Oanh, “Tìm hiểu về Hikikomori – vấn đề nhức nhối của xã hội Nhật Bản,” Apr. 2, 2020. [Online].
T. Saitō, 社会的ひきこもり―終わらない思春期 (Social Withdrawal: Adolescence without End). Japan, 1998.
J. Furlong, Hikikomori in Contemporary Japan. Bachelor’s thesis, Department of Japanese Studies, Stockholm University, Stockholm, Sweden, 2012.
L. Anh, Văn hóa giao tiếp ở Nhật Bản. Hanoi: The Gioi Publishers, 2016.
E. Sugiura, “Japan’s middle-aged recluses reveal lasting damage of hiring ‘ice age,’” Nikkei Asia, Apr. 6, 2019.
M. Saito, E. Honma, A. Makabe, and M. Naito, “Process by which mothers discover new ways of relating to their children thanks to Hikikomori parents' groups,” Journal of Family Nursing, vol. 19, no. 1, pp. 12–22, 2013.
L. Butet-Roch and M. Elan, “Pictures of life in isolation: Japan’s hikikomori,” 2018. [Online].
KHJ Federation of Families with Hikikomori, Official website. [Online]. Accessed: May 16, 2025.
Báo Pháp luật Việt Nam điện tử, “Hội chứng hikikomori – bi
kịch của những người chỉ muốn sống trong phòng tối,” 2019. [Online].
Asia Pacific Foundation of Canada, “2% of Japanese labour force could be ‘modern-day recluses’: Government survey,” Apr. 18, 2023.
J. McCurry, “Japan says 1.5m people are living as recluses after Covid,” Apr. 4, 2023.
T. Nga, “Khảo sát quy mô lớn đầu tiên Hikikomori,” Jun. 22, 2022. [Online].
T. Mien, “Những cuộc đời trốn tránh của người trẻ tuổi châu Á,” May 26, 2024. [Online].
H. Khuong, “Hội chứng cô lập xã hội Hikikomori ở Nhật đang lan rộng khắp nước Mỹ,” Jun. 9, 2023. [Online].
M. J. Y. Neoh, A. Carollo, M. Lim, and G. Esposito, “Hikikomori: A scientometric review of 20 years of research,” International Journal of Environmental Research and Public Health, vol. 20, no. 9, p. 5657, 2023.
T. Raether, “A camp for Japan’s social recluses,” Mar. 31, 2025. [Online].
VnExpress, “Những người trẻ sợ giao tiếp xã hội,” May 6, 2024. [Online].