https://lhj.vn/index.php/lachong/issue/feedTạp chí Khoa học Lạc Hồng2026-09-03T00:00:00+00:00Dr. Le Phuong Longphuonglong@lhu.edu.vnOpen Journal Systems<p><strong>1. Mục đích, tôn chỉ và phạm vi của tạp chí</strong></p> <p><span data-preserver-spaces="true">- Thông tin về các hoạt động khoa học của Trường Đại học Lạc Hồng; </span></p> <p><span data-preserver-spaces="true">- Giới thiệu công bố kết quả nghiên cứu khoa học thuộc lĩnh vực đào tạo, giảng dạy của Trường Đại học Lạc Hồng.</span></p> <p><strong>2. Chu kỳ phát hành</strong></p> <p><span data-preserver-spaces="true">Tạp chí Khoa học Lạc Hồng (ISSN: 2525-2186) là một tạp chí đa ngành đã ra số đầu tiên tháng 3 năm 2016. Giấy phép hoạt động số <strong>16/GP-BVHTTDL</strong> ngày <strong>15/04/2025</strong> do Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cấp cho <strong>Tạp chí Khoa học Lạc Hồng </strong>(in và điện tử) kỳ hạn 03 tháng 1 kỳ, xuất bản Tiếng Việt và Tiếng Anh.</span></p> <p><strong><span data-preserver-spaces="true">3. Các Lĩnh vực chính</span></strong></p> <p><em><strong>3.1. Lĩnh vực kinh tế </strong></em></p> <ul> <li>Quản trị kinh doanh</li> <li>Quản trị dịch vụ du lịch và lữ hành </li> <li>Tài chính Ngân hàng </li> <li>Kế toán</li> <li>Ngoại thương </li> <li>Luật Kinh tế </li> <li>Marketing </li> <li>Kinh doanh Quốc tế </li> <li>Chuỗi cung ứng </li> </ul> <p><strong><em>3.2. Lĩnh vực Khoa học Công nghệ</em></strong></p> <ul> <li>Công nghệ kỹ thuật ô tô </li> <li>Công nghệ tự động hóa </li> <li>Công nghệ kỹ thuật Điện - Điện tử </li> <li>Công nghệ kỹ thuật Cơ khí </li> <li>Linh kiện điện tử, công suất và ứng dụng </li> <li>Hệ thống lưu trữ năng lượng, truyền tải điện không dây </li> <li>Lưới điện thông minh và các vấn đề liên quan - </li> <li>Hệ thống truyền động điện và phương pháp điều khiển </li> <li>Năng lượng tái tạo, năng lượng mới và hệ thống năng lượng lai</li> <li>Hệ thống điều khiển thông minh </li> <li>Truyền thông (IoT) </li> <li>Robot và hệ thống tự động trong công nghiệp</li> <li>Mạng máy tính và truyền thông </li> <li>An toàn thông tin</li> <li>Công nghệ phần mềm</li> <li>Khai thác dữ liệu</li> <li>Hệ thống quản lý thông tin</li> <li>Trí tuệ nhân tạo và Robotics</li> <li>Xử lý ảnh</li> <li>Học máy và ứng dụng</li> <li>Truyền thông đa phương tiện</li> <li>Công nghệ Blockchain</li> </ul> <p><em><strong>3.3. Hóa - Dược </strong></em></p> <ul> <li>Công nghệ dược phẩm và bào chế thuốc </li> <li>Dược liệu và Dược học cổ truyền </li> <li>Dược lý và Dược lâm sàng </li> <li>Kiểm nghiệm Dược phẩm</li> <li>Kinh tế Dược </li> <li>Công nghệ thực phẩm </li> <li>Đảm bảo chất lượng và an toàn thực phẩm </li> <li>Quản lý môi trường </li> <li>Công nghệ môi trường </li> <li>Công nghệ sinh học </li> <li>Công nghệ kỹ thuật hóa học </li> </ul> <p><strong><em>3.4. Xã hội </em></strong></p> <ul> <li><span data-preserver-spaces="true">Văn hóa</span><strong><span data-preserver-spaces="true"> </span></strong></li> <li>Ngôn ngữ </li> </ul>https://lhj.vn/index.php/lachong/article/view/11771. Đánh giá hiệu quả test nhanh HBsAg trong sàng lọc người hiến máu tại Điện Biên2026-05-14T07:41:21+00:00Thanh Lươngluongthithanh@dntu.edu.vnDung Lại Thịbsdungbvtdienbien@gmail.com<p>Nghiên cứu này nhằm mô tả đặc điểm người hiến máu tình nguyện, xác định tỷ lệ dương tính với kháng nguyên bề mặt viêm gan B và các yếu tố liên quan, đồng thời đánh giá hiệu quả của test nhanh trong sàng lọc trước hiến máu tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Điện Biên. Nghiên cứu được thực hiện theo thiết kế mô tả cắt ngang hồi cứu trên 5.686 người hiến máu tình nguyện từ tháng 01 đến tháng 12 năm 2024. Số liệu được thu thập từ hồ sơ lưu trữ và xử lý bằng phần mềm thống kê. Kết quả cho thấy tỷ lệ dương tính với test nhanh là 4,5%, cao hơn ở nhóm tuổi 46–60 (7,0%), nam giới (5,9%), người hiến máu lần đầu (7,1%), công nhân (20,8%) và nông dân (11,7%). Trong 5.431 trường hợp âm tính với test nhanh, phát hiện thêm 16 trường hợp dương tính bằng phương pháp hóa phát quang và 8 trường hợp dương tính bằng kỹ thuật khuếch đại acid nucleic, với tổng tỷ lệ bỏ sót là 0,44%. Việc sử dụng test nhanh giúp giảm tỷ lệ đơn vị máu bị hủy từ 4,9% xuống 0,44% và tiết kiệm 67.550.820 đồng chi phí. Kết quả cho thấy test nhanh có giá trị trong sàng lọc ban đầu người hiến máu, tuy nhiên cần kết hợp với các phương pháp xét nghiệm có độ nhạy cao hơn để đảm bảo an toàn truyền máu.</p>2026-06-03T00:00:00+00:00Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học Lạc Hồnghttps://lhj.vn/index.php/lachong/article/view/11302. Chiến lược nâng cao hiệu suất pin nhiên liệu bằng hệ thống lai Fuel cell - Battery2026-04-18T04:28:07+00:00Đoàn Văn Tươngvantuong2021@gmail.comViên Xuân Quýphuonglong@lhu.edu.vnNguyễn Danh Nghĩaphuonglong@lhu.edu.vnNguyễn Thanh Sơnphuonglong@lhu.edu.vnLê Phương Longphuonglong@lhu.edu.vnPhạm Quốc Trungphuonglong@lhu.edu.vnTrần Ngọc Phi Longphuonglong@lhu.edu.vnTrần Văn Támphuonglong@lhu.edu.vnNguyễn Phú Ânphuonglong@lhu.edu.vn<p>Pin nhiên liệu màng trao đổi proton (PEMFC) được đánh giá là nguồn năng lượng sạch nhiều tiềm năng, song vẫn còn hạn chế về khả năng đáp ứng tải động và hiện tượng sụt áp khi vận hành độc lập dưới mức tải lớn. Nghiên cứu này tập trung đánh giá hiệu năng của hệ thống lai gồm pin nhiên liệu PEM 100W kết hợp ắc quy nhằm cải thiện các nhược điểm nêu trên. Quá trình thực nghiệm được tiến hành thông qua việc đối chiếu ba kịch bản vận hành gồm pin nhiên liệu độc lập, ắc quy độc lập và hệ thống lai tại các tải trở 1Ω, 2Ω, 5Ω cùng 10Ω trong thời gian 10 phút. Các thông số về điện áp, dòng điện, công suất và lưu lượng hydrogen được đo đạc để đánh giá hiệu suất của hệ thống. Kết quả cho thấy hệ thống lai duy trì sự ổn định ở điện áp 13 đến 14V và ngăn ngừa được hiện tượng sụt áp đột ngột từ mức OCV 18V xuống 5V tại mức tải trở 1Ω. Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng ghi nhận hệ thống lai duy trì mức hiệu suất chuyển đổi tốt hơn đạt mức xấp xỉ 50% so với cấu hình độc lập. Sự phối hợp này không chỉ giúp giảm lượng hydro tiêu thụ mà còn bù đắp được giới hạn về thời gian xả ngắn của thiết bị lưu trữ. Kết quả thực nghiệm cho thấy hệ thống lai ghép là một giải pháp phù hợp để nâng cao độ tin cậy cấp nguồn, đồng thời tạo cơ sở cho việc thiết kế các thuật toán quản lý năng lượng nhằm tối ưu hệ thống.</p>2026-06-06T00:00:00+00:00Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học Lạc Hồnghttps://lhj.vn/index.php/lachong/article/view/11753. Dự báo hệ số ổn định (Nc) của đường hầm hình chữ nhật dựa trên thuật toán mạng Nơ-ron nhân tạo2026-05-19T01:59:31+00:00Đinh Văn Phươngthanhtrungpc@lhu.edu.vnNguyễn Thị Hồng Vânnguyenthanhtrung@lhu.edu.vnHồ Đắc Nhậtnguyenthanhtrung@lhu.edu.vnNguyễn Thành Trungnguyenthanhtrung@lhu.edu.vn<p>Một mô hình mạng nơ-ron nhân tạo (ANN) được đề xuất trong nghiên cứu này nhằm dự đoán hệ số ổn định Nc của đường hầm hình chữ nhật trong nền đất sét không thoát nước. Bộ dữ liệu huấn luyện gồm 60 trường hợp được trích xuất từ nghiên cứu đã kiểm chứng của Shiau và cộng sự (2024) sử dụng phương pháp phân tích giới hạn phần tử hữu hạn (FELA), với hai thông số đầu vào là tỷ lệ độ sâu chôn hầm (H/D) và tỷ lệ chiều rộng (B/D), cùng bốn đầu ra là hệ số Nc cho hai kịch bản sụp đổ và bùng nền ở cận trên và cận dưới. Mô hình ANN được xây dựng bằng mã nguồn tự viết trong Matlab và huấn luyện bằng thuật toán tối ưu Adam hiện đại. Nghiên cứu tập trung khảo sát hai hướng chính: ảnh hưởng của số nơ-ron trong lớp ẩn và so sánh các hàm kích hoạt. Kết quả cho thấy hàm kích hoạt Gelu cho hiệu năng vượt trội so với các hàm truyền thống, và mô hình đạt hệ số xác định R² trên tập kiểm tra từ 0,9987 đến 0,9998 cho cả bốn đầu ra, vượt trội so với mô hình MARS. Mô hình này hứa hẹn là công cụ hữu ích cho kỹ sư trong việc ước lượng nhanh hệ số ổn định của hầm hình chữ nhật mà không cần thực hiện các mô phỏng số phức tạp.</p>2026-06-30T00:00:00+00:00Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học Lạc Hồnghttps://lhj.vn/index.php/lachong/article/view/11234. Phân tích kiến thức, thái độ và hành vi sinh viên dược Trường Đại học Nguyễn Tất Thành về bệnh loét dạ dày tá tràng 2026-06-16T02:43:39+00:00Nguyễn Thị Xuân Liễuntxlieu@ntt.edu.vnĐinh Nguyễn Hà Myntxlieu@ntt.edu.vn<p>Bệnh loét dạ dày tá tràng là một trong những bệnh lý tiêu hóa phổ biến nên việc trang bị kiến thức, thái độ đúng đắn và hành vi dự phòng hợp lý cho sinh viên có ý nghĩa quan trọng. Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện bằng cách khảo sát sinh viên khoa Dược trường Đại học Nguyễn Tất Thành. Kết quả cho thấy tỷ lệ sinh viên có tiền sử mắc bệnh đến 24,3%. Điểm trung bình kiến thức đạt 16,89 ± 4,95/26 (65,0%), thái độ 41,75 ± 5,91/55 (75,9%), hành vi 38,41 ± 5,96/55 (69,8%). Nhận thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa kiến thức và học lực (p < 0,01), giữa hành vi và giới tính (p = 0,008), giữa kiến thức và thái độ (r = 0,317; p < 0,001), giữa kiến thức và hành vi (r = 0,130; p = 0,007). Như vậy, kiến thức, thái độ và hành vi của sinh viên về bệnh loét dạ dày tá tràng ở mức khá. Sinh viên cần rèn luyện thói quen sinh hoạt lành mạnh và quản lý stress để phòng ngừa bệnh.</p>2026-06-30T00:00:00+00:00Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học Lạc Hồnghttps://lhj.vn/index.php/lachong/article/view/11425. Machine learning for predicting the academic performance of lower secondary school students2026-06-17T03:39:17+00:00NguyễnThị Ngọc Diễmng.diem0711@gmail.comPhạm Nguyễn Khánh Anng.diem0711@gmail.comNguyễn Thị Phương Anhng.diem0711@gmail.comLê Phương Longng.diem0711@gmail.com<p>This study analyzes factors influencing academic performance among lower secondary school students and develops a Machine Learning-based predictive application. The dataset included 957 valid observations collected from students in Dong Nai Province, Vietnam. Reliability testing showed acceptable internal consistency, with Cronbach’s Alpha values ranging from 0.602 to 0.851. Exploratory Factor Analysis confirmed data suitability, with KMO = 0.915 and p < 0.001, and extracted seven representative factors. The regression results showed that the model explained 53.4% of the variance in academic performance, with the cognition-attitude-emotion factor having the strongest influence. Among nine predictive models, nonlinear models outperformed linear models. Random Forest and XGBoost achieved the highest R² value of 0.951, while SVR achieved R² = 0.899 and RMSE = 0.456. SVR was selected for deployment because of its balance between predictive accuracy, stability, and practical applicability. A web-based demo system was then developed to allow students to complete an online survey, receive predicted academic performance, and obtain learning recommendations. The findings demonstrate the feasibility of applying Machine Learning to academic support systems at the lower secondary level.</p>2026-09-02T00:00:00+00:00Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học Lạc Hồnghttps://lhj.vn/index.php/lachong/article/view/12286. Tăng cường sức kháng cắt của dầm bê tông không đai gia cường sợi Polypropylene vĩ mô2026-08-10T01:48:18+00:00Nguyễn Thị Ngọc Bíchngocthanhvu@lhu.edu.vnNguyễn Thị Ánhngocthanhvu@lhu.edu.vnLê Hoàng Phongngocthanhvu@lhu.edu.vnNguyễn Bá Chuyênngocthanhvu@lhu.edu.vnVũ Ngọc Thànhngocthanhvu@lhu.edu.vn<p>Nghiên cứu trình bày kết quả thực nghiệm nhằm định lượng hiệu quả của sợi Polypropylene (PP) vĩ mô đối với ứng xử chịu cắt và hình thái phá hoại của dầm bê tông cốt thép không bố trí cốt đai. Chương trình thí nghiệm chế tạo bảy mẫu dầm tiết diện 100×150 mm trên nền bê tông M300, với hàm lượng sợi PP gợn sóng biến thiên từ 0% đến 1,5% theo thể tích. Các mẫu được thử uốn bốn điểm với tỷ số nhịp cắt trên chiều cao hữu hiệu cố định a/d = 2,97 nhằm ép cấu kiện phá hoại theo mô hình cắt thuần túy. Kết quả cho thấy khi hàm lượng sợi tăng đến 1,5%, sức kháng cắt cực hạn tăng từ 38,85 kN lên 45,75 kN (tăng 17,8%) và độ võng giữa nhịp tăng mạnh tới 34,0%. Nhờ hiệu ứng cầu nối của mạng lưới sợi phân tán cắt ngang vết nứt, cấu kiện chuyển từ phá hoại giòn đột ngột sang phá hoại kém giòn (giả dẻo), phân tán đa điểm. Dựa trên khung lý thuyết Khuntia, nghiên cứu xác định hệ số hiệu quả chịu cắt riêng của sợi PP là βPF = 0,20 và đề xuất công thức bán thực nghiệm hiệu chỉnh đạt độ chính xác cao với tỷ số thực nghiệm trên dự báo trung bình 0,996 (hệ số biến thiên 0,02). Nghiên cứu bổ sung kịp thời dữ liệu gốc và công cụ tính toán tin cậy cho bê tông cốt sợi tổng hợp, vốn chưa được đề cập đầy đủ trong các tiêu chuẩn hiện hành như TCVN 5574:2018.</p>2026-09-02T00:00:00+00:00Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học Lạc Hồnghttps://lhj.vn/index.php/lachong/article/view/12387. Effect of recycled coarse aggregate replacement ratio on the axial compressive capacity of reinforced concrete columns under hot and dry curing2026-08-23T05:56:48+00:00Nguyễn Khánh Hùngnguyenkhanhhung@lhu.edu.vnNguyễn Trần Toànnguyentrantoan92@gmail.comHồ Ngọc Hương TrangJanevie1701@gmail.com<p>This study evaluates the axial compressive behavior of reinforced concrete columns incorporating recycled coarse aggregate under hot and dry curing conditions. Recycled coarse aggregate was used to replace natural coarse aggregate at replacement ratios of 0%, 25%, and 45%. For each replacement ratio, three cube specimens and three column specimens were cured at 35 °C and 46% relative humidity and tested at 28 days. The cube specimens were used to determine the concrete compressive strength, while the column specimens were tested under axial compression to determine the maximum load carrying capacity. Finite element models were developed in Abaqus. Compared with the control group, concrete compressive strength decreased by 4.03% and 7.45%, while column capacity decreased by 4.64% and 6.78% for the 25% and 45% RCA replacement levels, respectively. RCA replacement did not fundamentally change the compression failure mode of the columns. The finite element models reproduced the decreasing trend in load carrying capacity but overpredicted the experimental results, with a mean absolute error of 6.91%. The results provide preliminary experimental and numerical evidence for considering recycled coarse aggregate in short reinforced concrete columns under hot and dry curing conditions.</p>2026-09-02T00:00:00+00:00Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học Lạc Hồnghttps://lhj.vn/index.php/lachong/article/view/12338. Ảnh hưởng của vị trí bố trí tường chịu cắt đến ứng xử kháng chấn của nhà cao tầng2026-08-26T00:50:12+00:00Nguyễn Trần Toànnguyentrantoan92@gmail.comNguyễn Duy Phíchduyphichnguyen@lhu.edu.vnNguyễn Trường Côngduyphichnguyen@lhu.edu.vnNguyễn Quốc Hưngduyphichnguyen@lhu.edu.vn<p>Nghiên cứu đánh giá ảnh hưởng của vị trí bố trí tường chịu cắt đến ứng xử kháng chấn của công trình bê tông cốt thép 20 tầng bằng mô hình không gian ba chiều trong ETABS. Năm phương án được khảo sát, gồm tường lõi trung tâm (PA1), tường phân bố giữa và gần biên (PA2), tường tại biên (PA3), tường tại hai góc công trình (PA4) và hệ khung không bố trí tường (PA5). Ứng xử động được phân tích bằng phương pháp phổ phản ứng và miền thời gian, với chu kỳ dao động cơ bản và chuyển vị ngang là các chỉ tiêu đánh giá. Kết quả cho thấy tường chịu cắt làm tăng độ cứng ngang và giảm chuyển vị so với hệ khung thuần. Theo phổ phản ứng, PA4 cho hiệu quả kiểm soát chuyển vị tốt nhất, với mức giảm 13–24%; trong khi theo miền thời gian, PA1 đạt chuyển vị nhỏ nhất, giảm 8–63%. Ngược lại, PA5 có chuyển vị lớn nhất, cao hơn 23–80% theo phổ phản ứng và 12–80% theo miền thời gian. Kết quả cho thấy hiệu quả của vị trí bố trí tường chịu cắt phụ thuộc vào phương pháp phân tích động, qua đó cung cấp cơ sở tham khảo cho lựa chọn phương án kết cấu trong thiết kế kháng chấn nhà cao tầng.</p>2026-09-03T00:00:00+00:00Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học Lạc Hồng